Bản tin Nhà đầu tư

BẢN TIN IR THÁNG 7/2025
29/08/2025

Tổng sản lượng tháng 7/2025 của Tôn Đông Á đạt 70.815 tấn tăng 14% so với tháng trước (MoM), nhưng giảm 3% so với cùng kỳ năm trước (YoY). Tăng trưởng chủ yếu đến từ nội địa với sản lượng bán hàng tháng 7/2025 đạt 57.160 tấn (+15% MoM; +79% YoY), được thúc đẩy bởi nhu cầu đầu tư hạ tầng, đầu tư công, các công trình nhỏ và vừa phục hồi tương đối. Đối với mảng nội địa, sản lượng bán hàng tăng lần lượt: tôn mạ kẽm +24% MoM, tôn mạ màu +21% MoM, tôn mạ lạnh +2% MoM. Xuất khẩu cải thiện nhẹ (13.655 tấn; +8% MoM) nhưng vẫn –67% YoY do rào cản thương mại và cạnh tranh khu vực. Lũy kế sản lượng bán hàng tháng 1 đến tháng 7 năm 2025 (7T2025) đạt 469.982 tấn (–8% YoY); nội địa tăng +64% (315.920 tấn) trong khi xuất khẩu giảm –52% (154.062 tấn). Cơ cấu tỷ trọng doanh số xoay trục với nội địa chiếm 67% (cùng kỳ 2024 ~38%).

1. Phân khúc nội địa

Doanh số nội địa đạt 57.160 tấn trong tháng 7/2025, tăng 15% MoM và 79% YoY, đóng góp 315.920 tấn trong 7T2025 (+64% YoY). Tôn mạ kẽm (GI) ghi nhận 19.320 tấn (+24% MoM, +138% YoY), nhờ tăng trưởng phân khúc ống thép, đáp ứng các dự án xây dựng, lợp mái và cải tạo dân cư. Tôn mạ hợp kim nhôm-kẽm (GL) đạt 18.863 tấn (+2% MoM, +59% YoY) và tôn mạ màu (PP) đạt 18.977 tấn (+21% MoM, +60% YoY). Sau thông tin Trung Quốc đẩy mạnh cắt giảm công suất sản xuất thép yếu kém và dự án đầu tư, điều này thúc đẩy động lực giá, cộng hưởng với tồn kho thấp từ tháng 6, các nhà sản xuất và phân phối hạ nguồn đã nâng tồn kho, hỗ trợ sản lượng bán hàng của công ty. Giá đầu vào ổn định vùng thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty sản xuất và đại lý so với quý 1 và quý 2 năm 2025. 

Sự tăng trưởng trong tháng 7 tại thị trường nội địa cũng được hưởng ứng từ làn sóng giải ngân đầu tư công, cụ thể trong tháng 7 đạt 69.728 tỷ đồng (tăng 7,9% so với lũy kế giải ngân đến hết tháng 6/2025) và tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công 7T2025 tăng 10 pps 7 tháng đầu năm 2024 (Nguồn: Báo Chính Phủ), bên cạnh sự phục hồi của bất động sản. Tồn kho thấp từ tháng trước thúc đẩy khách hàng tái tục hoạt động mua hàng cũng hỗ trợ thêm sản lượng bán ra cho công ty. Tỷ trọng nội địa chiếm 81% tổng doanh số tháng 7 đến từ việc tái định hướng chiến lược vào thị trường trong nước, giúp giảm rủi ro xuất khẩu. 

2. Phân khúc xuất khẩu

Doanh số xuất khẩu giảm xuống 13.655 tấn trong tháng 7 (-67% YoY), lũy kế 154.062 tấn trong 7T2025 (-52% YoY). Xuất khẩu GI giảm 14% MoM xuống 4.250 tấn (-67% YoY), GL tăng 31% MoM lên 9.388 tấn (-55% YoY), PP giảm 97% MoM xuống chỉ còn 17 tấn (-100% YoY). 

Bảng tóm tắt sản lượng bán hàng tháng 7/2025 và lũy kế 7T2025

Thị trường thép mạ toàn cầu 2025 đang vận hành trong một bối cảnh phức tạp, bị chi phối bởi xu hướng nhu cầu phân hóa và căng thẳng thương mại leo thang. Ngành thép Việt Nam hưởng lợi từ mức dự báo tăng 6%/năm từ nhu cầu nội địa, được hưởng ứng cùng 161.785,2 tỷ đồng đầu tư công (7T2025). Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu phải đối mặt với thách thức từ thuế nhập khẩu ở nhiều quốc gia, EU bắt đầu triển khai CBAM (chính sách áp đặt chi phí carbon cho các hàng hóa nhập khẩu) làm giảm cạnh tranh cho sản phẩm thép nhập khẩu vào EU kể từ đầu năm 2026, cùng với xuất khẩu Trung Quốc tăng ~20% YoY, làm gia tăng cạnh tranh tại ASEAN. Theo Hiệp hội Thép Thế giới, nhu cầu thép toàn cầu dự kiến tăng 1,2% năm 2025, với ASEAN (Đông Nam Á) và MENA (Trung Đông và Bắc Phi) ở mức ~4%, trong khi nhu cầu Trung Quốc giảm do doanh số, nhu cầu, và thu nhập từ bất động sản chững lại YoY. Trong bối cảnh toàn cầu biến động, chiến lược của công ty sẽ tiếp tục tập trung củng cố nội địa và khai thác thị trường ngách xuất khẩu, tận dụng đà phát triển công nghiệp của Việt Nam, hoạt động và đầu tư bền vững. 

Bản tin báo cáo này có những nhận định về tương lai trong các kỳ vọng dự định của Công ty có thể liên quan đến những rủi ro và sự không chắc chắn. Bạn đọc không nên xem những nhận định tương lai này là dự đoán sự kiện sẽ xảy ra hoặc lời hứa về kết quả trong tương lai.